
http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/%C3%9...%BB%8Dc_L%C5%A9
(I'm skipping the opening parts because I think they're unnecesary, you can go to the link and read those parts if you want)
Một quyển lịch cổ xưa
V́ các lư lẽ trên, vị tù trưởng phải có một quyển lịch năm, tính theo tuần trăng, theo mùa màng khí tiết, đặt ngay cạnh ḿnh, để dân hỏi ǵ là tra ngay ra được câu trả lời.
Lịch ấy vạch trên đồ đất nung th́ dể vỡ, dễ ṃn, không truyền được nhiều đời. Vạch trên mặt trống đồng th́ thật là tiện, gọn, đúng với vật biểu tượng uy quyền của ḿnh cùng cả ḍng tù trưởng.
Vậy những h́nh vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là một quyển Âm Lịch, có tháng đủ, tháng thiếu, có đêm trăng tṛn, trăng khuyết, hay không có trăng, lại có cả năm nhuận và chu kỳ 18 năm để tính tháng dư, cũng như có những chỉ vạch về 4 mùa trong năm.
Nếu vậy th́ không những không có ǵ là mê tính ( thờ chim, vật tổ mặt trời, mặt trăng, ca vũ để cầu thần linh,…) mà có vẻ như người xưa c̣n có tinh thần thực tế, hợp lư, khoa học, chính xác, chưa biết chừng người đời nay c̣n phải giật ḿnh là đằng khác nữa.
Cách đếm ngày và đêm

Cách đếm ngày và đêm
Năm âm lịch theo kinh nghiệm nhiều đời nghiên cứu mặt trăng, vẫn được tính là 354 ngày ( dương lịch tính 365 ngày ) chia ra cho 12 tháng, th́ mỗi tháng 29 ngày gọi là tháng thiếu và có dư 6 ngày để thêm vào cho 6 tháng khác gọi là tháng đủ.
Vậy một năm âm lịch có 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày.
Cứ năm năm lại có hai năm mỗi năm dư 1 tháng, gọi là năm dư tháng nhuận.
Và cứ sau năm thứ 18, qua năm thứ 19 gọi là 1 chương th́ lại không tính là năm dư, chỉ có 12 tháng thôi, kể như là năm thường vậy.
Do đó, ṿng h́nh vẽ 18 con chim mỏ dài cánh lớn ở ngoài cùng là h́nh vẽ một chu kỳ 18 năm, mỗi con chim ấy là 1 năm.
Ṿng h́nh vẽ thứ nhất ở trong cùng gần trung tâm có 6 người trang phục kỳ dị mỗi bên ṿng tṛn đối nhau, đă không phải người Giao Chỉ ăn bận như thế, mà đó là những vị thần cai quản mỗi vị 1 tháng, trong 6 tháng đầu ở 1 bên và 6 tháng cuối mỗi năm. Thêm có một h́nh người thấp bé hơn cạnh 6 người ở một bên, đó là để ghi tháng nhuận của năm dư.
Ṿng h́nh vẽ thứ nh́ ở giữa, có 6 con gà, 10 con hươu, rồi lại 8 con gà, 10 con hươu, ấy là h́nh vẽ những con vật tương trưng. Gà chỉ đi ăn vào ban ngày, Hươu đi ăn vào đêm trăng sáng. Có 6 đêm vào đầu tháng từ 1 đến 6 không trăng; và 8 đêm vào cuối tháng từ 22 đến 30 cũng không trăng. Những đêm ấy không đi săn thú được. Và sau đó, khi có trăng th́ có thể tổ chức đi săn đêm.
Theo kinh nghiệm cũ truyền măi tới ngày nay, có 6 đêm đầu tháng không trăng, người ta tính :
Mồng 1 lưỡi trâu - Mồng 2 lưỡi gà - Mồng 3 lưỡi liềm - Mồng 4 câu liêm - Mồng 5 liềm vật - Mồng 6 phạt cỏ - Mồng 7 tỏ trăng, là bắt đầu tuần trăng sáng.
Tuần trăng sáng kia dài đến đúng đêm 10 rằm trăng náu (đáo : đủ ). Mười sáu trăng treo ( chiêu : sáng sủa ). Mười bảy trải giường chiếu ( rủ giường chiếu ). Mười tám giương cạm ( trương : xếp đặt, chẩm : cái gối ). Mười chín bịn rịn (bị : áo ngủ đắp trùm, rị : tối ). Hai mươi giấc tốt ( ngủ ngon ). Hai mốt nữa đêm ( mới có trăng ).
Từ 22 lại vào tuần không trăng, ( 22 – 30 ) nên không cần tính nữa.
Cái hoa 14 cánh ở trung tâm không phải là h́nh mặt trăng hay mặt trời của bộ lạc thờ những tinh thể ấy, đó là h́nh vẽ để đếm đêm và ngày.
Đêm là khoảng cách nằm giữa mỗi 2 ngày, trong cả tháng 29 ngày. Tổng số khoảng cách ấy là 28 nếu là tháng thiếu, 29 nếu là tháng đủ.
Cái hoa 14 cánh, đếm hết ṿng thứ nhất từ 1 đến đêm trăng tṛn (15, đêm rằm ) và đếm ṿng thứ 2 nữa, từ 16, th́ lại trở về đêm không trăng (đêm 30).
Bắt đầu đếm từ đâu ?
T́m ra đầu mối là vấn đề quan trọng. Chỉ có 1 điểm trong cả ṿng tṛn để dùng khởi đầu cuộc đếm. Ấy là điểm chỉ vào đêm 30 không trăng.
Ta biết rằng vào đầu tháng có 6 đêm không trăng.
Vậy điểm khởi đầu để xem lịch phải nằm ở đuôi con gà cuối cùng trong ḍng 6 con.

Thực hành việc ghi lịch và xem lịch :
Người ta có thể dùng một chất màu (son phấn, mực đen) mà bôi lên h́nh của mỗi cánh hoa khi có 1 đêm qua. Chẳng hạn đến cánh thứ tư mà ṿng ngoài chưa có ǵ cả th́ đó là đêm mồng 4 tháng giêng năm đầu của chu kỳ. Nếu ṿng ngoài đă có 3 h́nh người tượng trưng cho tháng và ṿng ngoài cũng đă có 6 con chim bị bôi rồi th́ đó là đêm mồng 4 tháng tư năm thứ 7 của chu kỳ.
Người tù trưởng có thể lấy năm đầu của ḿnh chấp chưởng quyền lănh đạo làm năm đầu chu kỳ. Khi nh́n vào lịch th́ biết rơ ḿnh đă cai trị được bao nhiêu năm.
Con vật nhỏ theo sau mỗi con CHIM THỜI GIAN của một năm là để dành ghi năm nhuận 13 tháng. Cứ 5 năm th́ bôi màu đánh dấu vào hai con vật nhỏ ấy, để hết tháng sáu nữa mới bôi vào tháng 6.
( Việc làm có vẻ mất công. Như ngày nay, mỗi ngày người ta cũng phải bóc một tờ lịch, và nếu lịch tháng th́ mỗi ngày cũng phải lấy bút đánh dấu để hết tháng th́ xé một tờ ).
Quyển Âm Lịch dùng cho nhiều năm :
Như vậy, ta thấy quyển lịch này dùng được cho nhiều năm và chúng tôi nghĩ rằng ngay cả bây giờ vẫn dùng được, để có thể mệnh danh là Nguyệt Lịch Vạn Niên.
Làm sao biết chính xác năm nào nhuận vào tháng nào ?
Điều ấy chưa có tài liệu nào khác để hiểu thêm. Có lẽ người xưa đă dùng lối chiêm nghiệm về khí tiết trong nhiều năm, nhiều chu kỳ, thấy có diễn biến trở lại như cũ mà bồi bổ dần cho sự hiểu biết chăng ?
Biết đúng tháng nào đủ, thiếu , hoặc hai ba tháng đủ liền, hai ba tháng thiếu liền, và nhất định vào đâu trong năm, tất cũng do chiêm nghiệm.
Hoặc c̣n một dụng cụ để ghi nhớ nào khác, trên một mặt trống khác, hay một vật nào khác mà ngày nay chưa t́m ra ?
Điều ta có thể biết chắc được là người xưa đă quan sát tinh tế rồi chiêm nghiệm trước, sau mới tính toán, để lại chiêm nghiệm nữa, mà kiểm điểm những tính toán kia.
Sách Xuân Thu Tả Truyện có chép rằng : mùa đông tháng 12 (Năm Ai Công thứ XII) có châu chấu phá hoại. Quư Tôn hỏi Khổng Tử, ông đáp : “Tôi nghe rằng: chiều mà không thấy sao hoả nữa th́ côn trùng ẩn phục hết. Nay sao hoả vẫn c̣n thấy chuyển vận về phía Tây, chắc các nhà làm lịch đă lầm”. Ư nói theo lịch Trung Hoa là tháng chạp. Đáng lư ra th́ sao hoả không c̣n thấy được vào buổi chiều. Sâu bọ phải ẩn phục hết rồi v́ lạnh. Thế mà nay sao hoả vẫn c̣n thấy hiện, côn trùng c̣n phá phách, như vậy các nhà làm lịch Trung Hoa thời ấy đă lầm, đáng lẽ phải có tháng nhuận nữa mới phải.
Đó chính là thể thức và phương pháp làm lịch chung cho cả mọi giống dân trên thế giới, mà quyển lịch trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đă có sẵn những ǵ để pḥng hờ chỗ ghi năm dư tháng nhuận, th́ trước khi nó hiện ra là một bảng lập thành, ḍng dơi các tù trưởng Giao Chỉ không phải chỉ chừng năm ba thế hệ. Chúng ta có thể đoán không sợ sai lầm là ít nhất cũng phải mươi cái chu kỳ 180 năm (tức ít nhất là 1800 năm cho đến khi cái trống Ngọc Lũ đầu tiên được đúc), c̣n hơn nữa th́ không dám biết.
Những kết quả chiêm tinh lịch số riêng :
Vâng, riêng của ḍng tù trưởng Giao Chỉ. Đây là những bằng chứng hùng hồn nhất cho biết đích xác hồi đầu lịch sử, giống dân Giao Chỉ ở gốc tổ sống mà chẳng dính dáng ǵ về văn hoá với giống người Trung Hoa.
Người Trung Hoa cho rằng nền thiên văn của họ bắt đầu với Phục Hi, khoảng 2850 năm trước kỷ nguyên Tây lịch. Đến đời Hoàng Đế ( 2657 – 2557 ) ta đă thấy họ dùng cách tính năm tháng theo chu kỳ lục thập hoa giáp ( chu kỳ 12 năm ). Hán thư Nghệ Văn Chí có ghi : “Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập quyển”. Cháu ba đời Hoàng Đế là Chuyên Húc (2545 – 2485 ) rất có nhiều về thiên văn. Trúc Thư Kư Niên viết : Sau khi lên ngôi được 13 năm, vua bắt đầu làm lịch số, và tính toán vị trí các sao trên trời. Xuân Thu Tả Truyện cũng ghi nhận rằng đời vua Chuyên Húc đă có những quan coi về lịch, về nhị phân (xuân phân, thu phân) và nhị chí (đông chí, hạ chí) và đoán được các ngày đầu mùa ( Xuân Thu Chiêu Công năm XVII ). Đời vua Nghiêu ( 2356-2255) đă biết vị trí nhị thập bát tú, nhật nguyệt ngũ tinh, đă định năm là 365 ngày, đă biết đặt tháng nhuận.
Riêng ḍng tù trưởng Giao Chỉ, một ḿnh hùng cứ một cơi trời nam, th́ tính năm 354 ngày với 6 tháng đủ, 6 tháng thiếu trong một năm, cho đúng với tuần trăng và khí tiết, mà đến ngày nay, âm lịch từ Trung Hoa in đem qua bán, cũng tính theo như thế. Nếu cần tính sổ vay mượn, th́ có lẽ người Trung Hoa đă thiếu nợ của ta vậy.
Lịch in vào sách và lịch khắc trên mặt trống :
“Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập tam quyển”. Thật đă rơ: người Trung Hoa in lịch trên sách và lịch 365 ngày. Người giao Chỉ khắc lịch vào mặt trống đồng và lịch 354 ngày. Người Trung Hoa dùng Thiên Can, Địa Chi tính năm tháng ngày theo chu kỳ thập lục hoa giáp. Người Giao Chỉ tính chu kỳ 18 năm và những bội số của 18 ấy. Tỉ như 180 là gồm 3 lần lục thập hoa giáp (180=3x60) . Kết quả vẫn như nhau vậy .
Riêng việc có một sáng kiến sắp xếp ngày tháng năm của quyển lịch cho tiện dụng hàng vạn năm th́ đă thật là một sáng chế không kém cơi về khoa học, hợp lư, nhất là khi chúng ta được biết chưa thấy dẫn nước nào có một quyển lịch như vậy (Âm lịch hay Dương lịch ).
Đi sâu vào chi tiết :
Hướng tiến chung :
Tất cả các h́nh vẽ chim, gà, hươu, người, đều tiến theo một hướng trong ṿng tṛn, từ trái qua phải, thuận theo chiều quay của Trái Đất đối với người quan sát, day mặt về hướng Bắc ( ngược chiều quay của kim đồng hồ ).
Bởi lịch này là nguyệt lịch nên đặt tất cả theo chiều quay chung ấy.

Phương tí ngọ :
Đặt đúng khởi điểm của lịch ở cuối con gà trong ḍng 6 con như đă nói, th́ phương tí ngọ (bắc nam) chếch qua tia cuối bên tay trái của 14 tia ở trung tâm. Ấy là tiết đông chí nhất dương sinh, ngày đầu năm thiến văn, các loại vật đông miên bừng tỉnh dậy và mầm của cây cối cũng bắt đầu đội vỏ đâm lên.Ta gặp trên đường thẳng vạch từ trung tâm ra ṿng thứ nhất, h́nh vẽ của những ǵ như người ở trong nhà sàn vừa tỉnh dậy.
C̣n kéo thẳng đường ấy ngược lên phái Nam , là thái dương cư ngọ, ấy là ngày hạ chí, trời nóng nực. Ta gặp h́nh vẽ của những ǵ như người làm việc đồng án vắng nhà.
Phương mẹo dậu :
Từ Tây sang Đông hới chếch lên, không vuông góc với Nam Bắc, ta gặp ở 2 đầu trên đường thẳng vạch tại ṿng tṛn thứ nhất, hai cái h́nh giống nhau, cùng khum tṛn với 2 cột 2 bên, ở giữa một bệ như bệ thờ. Ấy là Xuân phân, Thu phân, khí trời mát mẻ, mọi người phải lo làm việc tế lễ.
Bốn ngày thuộc nhị phân nhị chí này chính là 4 cái mốc thời gian cho người ta căn cứ để làm lịch.
(Tóm lượt đoạn viết về ghi chú trong sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quư Đôn : Không những bóng mặt trời khác ở những ngày nhị phân nhị chí, cả ngày dài ngày ngắn cũng khác nhau. Cả mặt trời mọc, lặn của những ngày nhị phân nhị chí cũng vào những thời khắc khác nhau).
Chúng ta không c̣n những dụng cụ của người Giao Chỉ đă dùng để đo thời gian, nhưng chắc chắn phải có, th́ khi chiêm nghiệm mới biết được có những ǵ khác nhị phân nhĩ chí, để người ta dùng nó như những cái mốc thời gian mà làm lịch.
Phương tí ngọ và phương măo dậu với cḥm sao bắt đẩu :
Trên mặt trống đă có những phương Bắc Nam Đông Tây như vừa nói, th́ trống tất nhiên phải được đặt theo phương hướng ấy trước mặt tù trưởng.
Do đó ngoài công dụng làm lịch, trống c̣n là một địa bàn cho một bộ tộc, khi đă định cư, để t́m ra phương hướng đi và về trung tâm định cư của ḿnh, dù bằng đuờng thuỷ hay đường bộ.
Trên h́nh thuyền, ở tang trống, có vẽ cái trống không thể hiểu là phẩm vật đem bán v́ chỉ có một cái và lại đặt như thế. Đó là “ cái bàn biết phương hướng “đi về. Người đứng trên cầm cái ǵ như cung tên nhưng không nhắm để bắn ǵ cả, đó là công cụ xem sao mà xoay hướng thuyền.

Các hướng Đông Tây được ước định theo chiều xoay của kim đồng hồ. Đó là khi người ta quan niệm Trái Đất đứng yên một chỗ, chỉ mặt trời mọc đằng Đông , lặn đằng Tây.
Nhưng khi người ta chiêm nghiệm và quan niệm Mặt Trời đứng nguyên vị và Trái Đất chạy xung quanh Mặt Trời theo quỹ đạo thực của nó, th́ phương hướng lại được ước định như sau :
V́ vậy, trên mặt trống đồng ta thấy :
Vấn đề hướng Đông Tây, theo sử gia Hy Lạp Hérodote, ở thế kỷ V trước CN, khi tiếp xúc với các tu sĩ Ai Cập, ông được các vị này cho biết trải qua 341 thế hệ thiên vương Ai Cập ( tính ra 11 ngàn năm ) đă có 4 lần mặt trời mọc và lặn ở phương khác nhau. 2 lần nó đă mọc ở phía nó lặn bây giờ và 2 lần nó đă lặn ớ phía nó mọc bây giờ.
Nhà học giả Nga Immanuel Velikovsky khi dẫn điều ấy trong sách “Tinh Cầu va chạm” ( Modes en collision ) c̣n nhắc thêm nhiều cổ tự Ai Cập khắc trên lá giấy papyrus nói về sự lộn ngược của Trái Đất hồi 2 thiên niên kỷ trước Tây lịch, không thể cho là mơ hồ được những lời như : Harakhte ( mặt trời chiều ) mọc ở phương Tây. Ông lại dẫn thêm những chữ khắc trong các kim tự tháp : “Mặt Trời đă thôi ở phương Tây và bắt đầu chói sáng ở phương Đông”. Sau khi có hiện tượng đảo ngược phương hướng ấy, th́ danh từ phương Tây và mặt trời mọc đă không c̣n đồng nghĩa với nhau nữa, mà người đời đă phải nói thêm để xác định : l’Quest, qui est à l’Occident (phương Tây là ở về phương Tây).
Theo luận cứ của tác giả th́ đó là kết quả của hiện tượng lộn ngược trục xoay của Trái Đất. Chúng tôi chưa dám tin là đúng như vậy, bởi v́ đúng như vậy th́ kể từ ngày đổi phương hướng Đông Tây ấy, mà chữ khắc trong kim tự tháp ghi nhận, và đây mặt trống vẽ ra khi chưa đổi phương hướng, người ta tất phải chiếu theo để ước định rằng quan niệm và chiêm nghiệm này có tuổi thọ xưa hơn quan niệm và chiêm nghiệm ghi trong kim tự tháp.
Quan sát mặt trăng và thuỷ triều :
Tù trưởng cần biết đích xác thuỷ triều lên xuống để chỉ dẩn dân chúng làm ruộng hay ra khơi. Cho nên ông cần ngồi đồng hướng mới nghiên cứu được mặt trăng và con nước.
Kinh nghiệm không sai dạy từ xưa đă cho biết rằng :
· Mặt trăng đến phương Măo Dậu th́ thuỷ triều dâng lên ở phía Đông, Tây. Mặt trăng đến phương Tí Ngọ th́ thuỷ triều dâng lên ở phía Bắc, Nam .
· Từ mồng một đến ngày rằm, con nước thường chậm một đêm. Từ ngày rằm đến ngày mồng một, con nước thường chậm một ngày. Trước và sau ngày mồng một và ngày rằm, mặt trăng đi mau hơn, cho nên 3 ngày trước cuối tháng th́ con nước thượng thế lớn hơn.
· Ba ngày sau ngày mồng một, con nước đương thế to tát. Trong ngày rằm con nước cũng như thế. Trong thời trăng lưỡi liềm, mặt trăng đi hơi chậm, cho nên con nước lên xuống hơi kém.
· Trong một tháng, con nước lên mạnh sau ngày mồng một và ngày rằm.
· Trong một năm, con nước lên mạnh vào giữa mùa xuân và mùa thu.
· Con nước ban ngày trong mùa hạ th́ to ………
Đó là những chiêm nghiệm của người ở hải khẩu vùng sông Mă, người ở Phong Châu trong đất liền sợ không có chiêm nghiệm ấy.

Con chim thời gian :
Trên mặt trống ở ṿng ngoài cùng, kể như ṿm không gian, ta thấy vẽ những con chim mỏ dài cánh lớn đang bay. Không phải là chim vật tổ, mà đó là biểu tượng của một năm qua, do người ta quan sát thấy con chim ấy bay vút ngang trời vào mùa này năm ngoái, th́ năm nay cũng mùa này, cỡ ngày này lại thấy nó bay.
Tức là đă có chu kỳ 18 năm. Sở dĩ chỉ có 18 không hơn không kém số ấy là v́ người ta dựa theo thang biểu 9 năm trước để tính ngày nguyệt sóc 9 năm sau.
Sách Vân Đài loaị ngữ của Lê Quư Đôn có chép định thứ tính lịch như sau :
Ngày mồng một của mỗi tháng vốn từ xưa đă có phép tắc.
Quy định ngày ấy của 9 năm trước đem dùng lại để quy định ngày ấy của 9 năm sau.
Gặp ngày ấy của tháng đủ ở 9 năm trước th́ đếm liên tục từ can cũ của ngày ấy đến can thứ năm, từ chi cũ của ngày ấy đến chi thứ chín ( theo số lẻ, để định can chi cho ngày ấy tháng ấy của chín năm sau ).
Gặp ngày ấy của tháng thiếu ở 9 năm trước cũng đếm như thế, nhưng dùng can thứ 4, chi thứ 8 ( theo số chẵn để định can chi cho ngày ấy tháng ấy ở chín năm sau ).
Gặp năm thứ 36 = 6x6 = 18x2 của chu kỳ th́ nên lưu ư suy tính cho kỹ. Phải tính xem trong ṿng 36 năm ấy có bao nhiêu số lẻ thuộc về tiết Hàn lộ. Rồi ông lấy thành quả ấy để quy định ngày Lập Xuân của năm mới này.
Nếu tính toán theo căn bản đó th́ không sai lầm.
Bốn mươi bảy năm về trước có nhuận vào tháng nào th́ nay phải gia thêm 2 tháng để tính tháng nhuận. Giảm tăng như thế th́ không sai vào đâu được.
Tất cả các phép tính trên đây có thể có bàn tay mà tính ra được.
Ví dụ :
Giả như năm Mậu Tư, tháng giêng là tháng thiếu, ngày mồng một là ngày Ất Dậu, can ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu đến chi thứ tám là Th́n. 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng giêng ngày mồng một là ngày Mậu Th́n.
Giả như năm Mậu Tư, tháng hai là tháng đủ, ngày mồng một là ngày Giáp Dần. Can giáp đến can thứ năm là can Mậu, chi dần đến chi thứ chín là chi Tuất, 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng 2 ngày mồng một là ngày Mậu Tuất.
Cũng trong Vân Đài loại ngữ của Lê Quư Đôn c̣n có bí quyết tính ngày mồng một và ngày rằm như sau :
Mồng một tháng giêng của 9 năm trước là ngày Th́n.
Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Th́n.
Mồng một thàng hai của 9 năm trước là ngày Th́n.
Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Th́n.
Chúng ta chưa biết rơ người Giao Chỉ khi quan niệm lịch với chu kỳ 18 năm đă gọi tên tháng như thế nào, và đă những số can chi gọi bằng những tên nào khác để tính ngày ra sao. Nhưng hẳn đă phải có th́ đời sau mới noi theo bí quyết cũ mà làm những bài thơ đặt công thức cho người làm lịch. Cả những kết quả chiêm nghiệm về khí tiết, tháng nhuận., ngày Lập Xuân,… hẵn cũng đă phải có để người đời sau chỉ tuân theo thôi.
Sáu con gà và tám con gà :
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” đă dẫn lời sách Hoàn Vũ kư mà cho biết rằng : ở Ái Châu về huyện Di Phong có giống gà gọi là Trào Kê, khi tới kỳ nước triều lên th́ gáy để báo tin. Sách ấy cũng có nói tới một giống gà khác ở mạng thượng du là Cẩm Kê, lông có nhiều sắc xanh đỏ trắng xen lẫn như nền gấm.
Trên mặt trống, có thể chắc được là người ta vẽ h́nh con Trào Kê, một đặc sản địa phương có linh tính hữu ích cho cuộc sống, lại có liên hệ tới công dụng của trống về sự quan sát thuỷ triều.
Nhưng tại sao lại vẽ sáu con gà sau ngày mồng một và ngày rằm. Trong khi theo ḱnh nghiệm chỉ 3 ngày trước và 3 ngày sau những ngày ấy th́ con nước mới ở thế lớn hơn ? Và tại sao lại vẽ tám con gà bên kia ṿng tṛn, sau và trước 10 con hươu ?
Phải chăng để nói về 6 đêm đầu tháng và 8 đêm cuối tháng không trăng, không nên tổ chức đi săn đêm?
Mười con hươu lại 10 con hươu :
Hươu vẽ ở đây là hươu sao, có đốm lông trên ḿnh, và vẽ thành từng cặp : đực đi trước, cái đi sau, tất cả đều có sừng. Đó là con vật có tên là lộc, hay ở núi cao, tiết Hạ Chí rụng sừng ( khác hẳn với nai, chỉ con đực có sừng và hay ở hốc núi nên tiết Đông Chí rụng sừng).

Theo tục truyền th́ hươu thuộc loài tiên thú, 60 năm ắt có ngọc quỳnh, ở gốc sừng có dấu tích lấm chấm sắc tím. Do đó cổ ngữ nói con hươu có ngọc nên sứng vằn, con cá có châu nên vảy tím. Đặc biệt hơn là hươu trắng, người xưa coi hươu trắng xuất hiện là một điềm may. Cho nên hễ bắt được nó th́ người ta dâng về cho vua và sẽ được thưởng.
Theo tài liệu của sách sử và địa lư cũ, chỉ Thanh Hoá có nhiều loài này. Vùng phía Bắc từ Ninh B́nh trở ra th́ hiếm dần. Vùng phái Nam cũng vậy. Từ đèo Hải Vân trở vào th́ không thấy nữa, chỉ có nai thôi.
Điều đáng nói ở đây là người ta vốn biết tánh con hươu hay dâm, một con cái thường giao cấu với vài con đực. Vậy mà trên mặt trống người ta vẽ cặp nào cặp ấy, không lộn xộn, con đực đi trước, con cái đi sau. Người ta muốn sắp xếp đời sống vợ chồng của chúng nó vào khuôn khổ luân lư ? Hoặc đó là dấu hiệu để nói lên cuộc sống định cư, chấm dứt thời kỳ thị tộc mẫu hệ ?
Riêng việc v́ sao vẽ 10 con hươu, theo ư chúng tôi phỏng đoán có lẽ con số 10 chỉ là con số toàn vẹn, để nói rằng nhiều lắm, đầy đủ lắm, mà người đi săn đêm sẽ gặp vào đêm trăng sáng ?





