I've just found a very interesting articles about relationship between the two through language
http://forum.hoanglekha.net/ar/t2481.htm
Âu ơi, Lạc ơi...
Tiếng Thái lạ?
Thử nh́n cho kỹ
Cái nhầm kỳ quặc
Tiếng ngh́n năm cũ
Bền là cái cách
Đá nhau một chút
Bỏ qua đi... tây!
Hiểu làm sao?
Tiếng Thái lạ?
Theo Từ điển bách khoa Britannica (2002), ngữ hệ "Tai-Kadai" - mà thứ tiếng chính là quốc ngữ của nước Thái-lan -, không có liên hệ ǵ chắc chắn với bất cứ thứ tiếng nào khác xung quanh nó cả.
Thoạt tiên, do thấy Tai-Kadai (T-K) có thanh điệu (tức dấu) và có nhiều từ giống tiếng Tàu, giới chuyên môn bèn xếp nó vào ngữ hệ Hoa-Tạng. Sau khi biết rất nhiều từ vựng căn bản của T-K thực ra không phải gốc Hoa, giả thuyết này bị loại bỏ. Năm 1942, học giả Mỹ Paul Benedict đề xuất T-K có dính líu với ngữ hệ Nam đảo (Austronesian). Giả thuyết Austro-Tai gây xôn xao một thời, nhưng đến nay vẫn chưa được đa số chấp nhận. [1]
Những ngôn ngữ lớn trên thế giới [2] của Đại học Oxford (1987) khảo về 48 ngữ và ngữ hệ, do nhiều chuyên gia phụ trách. Xem kỹ, từ bài giới thiệu toàn bộ công tŕnh của chủ biên đến bài viết chung về hệ T-K đến bài bàn riêng về tiếng Thái-lan, cũng không thấy giả thuyết nào mới về nguồn gốc tiếng nói của các dân tộc Thái.
T-K quả bí mật đến thế sao?
Dưới đây sẽ đưa ra bằng chứng về liên hệ rất đặc biệt giữa thứ tiếng ấy và tiếng Việt.
Thử nh́n cho kỹ
Ngữ hệ Tai-Kadai phân bố rộng răi: ngoài hai địa bàn chính là Thái-lan và Lào, nó c̣n hiện diện ở Trung Quốc (các tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam), Việt Nam (thượng du phía bắc), Miến Điện, và cả Ấn Độ (tỉnh Assam, phía đông bắc).
V́ tiếng Thái-lan được xem là tiếng chính và v́ lư do thực tế, việc t́m hiểu sẽ giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ ấy, từ đây gọi vắn tắt là tiếng Thái.
Từ vựng
Tiếng Thái cũng đơn âm và có dấu như tiếng Việt [3] . Thanh điệu trong tiếng Thái đại khái tương đương với không, huyền, sắc, nặng, ngă trong tiếng Việt. [4]
Khác hẳn các ngôn ngữ trong hệ Ấn-Âu, từ Thái và từ Việt không bao giờ biến thể v́ bất cứ lư do ǵ. Không bao giờ có chuyện mít thành míts, xanh thành xanhe, chạy thành chạyed, chạying v.v.
Về những từ căn bản, có ít nhất năm sáu trăm trường hợp tiếng Thái rất giống tiếng Việt. [5]
Để tiện suy nghĩ, tạm chia số từ "chung" này làm 16 nhóm như sau:
(1) Nhóm Cơ thể. Ví dụ: lang (lưng), khrao (râu), phung (bụng), san (xương), kang (cằm), khar (cẳng), kho (cổ), lai (vai), kho hoi (cổ họng), eo (eo).
(2) Nhóm Cảm giác. Ví dụ: dam (đen, thâm), horm (thơm), nak (nặng), tian (trơn), ot (đói), fart (chát), shuet (hoét-nhạt), yark (khát), nuai (oải).
(3) Nhóm Sinh hoạt căn bản. Ví dụ: thup (thụi), khen (chẹn), op (ôm), kho (khơ), khae (khảy), toi (thoi), kao (cào), yut (giật), khwarng (quăng), thap (đạp), hayeng (kiễng), yorng (dựng-tóc), yam (giẫm), ngoei (ngước), ngok (ngóc), kat (cắn), kharp (cạp), ar (há), om (ngậm), khai (khạc), niyom (nếm), kom (khom), morp (mọp), khot (co), cho (chọt), chorng (chong - mắt).
(4) Nhóm Quan hệ gia đ́nh. Ví dụ: tia (tía), mae (mẹ).
(5) Nhóm Sản phẩm nhân tạo. Ví dụ: naa (ná), krong (lồng), marn (màn), klorng (trống), phat (quạt), rua (rào), khorng (cồng), ple-yuan (vơng), khel (kèn), tum (chum), keea (cửi), khrok (cối), moong (mùng), khem (kim), chaeo (chèo), sao (sào), khao (gạo), sin (xiêm), thong (ống).
(6) Nhóm Ư niệm thời gian. Ví dụ: phrorm (rồi), sarng (sáng), warn (qua), duan (tháng), mai (mới), kae (già), nee (nay), khoei (quen).
(7) Nhóm Ư niệm không gian. Ví dụ: to (to), wong (ṿng), klom (tṛn), kong (cong), luk (lút), lum (lúm), prong (rỗng), yao (dài), tam (thấp), khaep (hẹp), $hit (sít), noi (nhỏ), lek (lắt-nhỏ), nit (nhít-nhỏ), khap (chật).
(8) Nhóm Ư thức về trạng thái, chất lượng. Ví dụ: rorn (rôm-sảy), krorp (ṛn), sa-art (sạch), prong (trong), rao (rạn), naen (nêm- đông), puai (hoai-phân), mue (mờ), ler (dơ), puan (bẩn), mun (mụ-đờ đẫn), mhod (mỏi), yun (dùn, chùng), rarp (rạp), nieo (dẻo, nếp), ae-at (kẹt), rua (ṛ), ung (ồn), nao (nẫu), rom (râm), hot (hóp), hieo (héo).
(9) Nhóm Ư thức tổng quát. Ví dụ: taek (tét-bể), ngorn (ngọn), yort (chót), yot (rớt), trong (trúng), phit (phét), du (dữ), loi (nổi), luem (lẫn-quên), phlat (lạc-quên đường), phung (phun), barn (banh-mở), phut (phựt-bật lên), op (ấp), larm (lan-lan tràn), plaek (lạ), sut (sụt), pong (phồng), tarng (đàng), naeo (nẻo), phler (lỡ, nhỡ).
(10) Nhóm Sinh hoạt cao cấp - Cụ thể. Ví dụ: tum (thấm, chặm), cho (trỗ), thak pia (thắt bín), yarng (nướng), hor (bó), phar (pha-cắt thịt), naep (nẹp), ru (rũ), chum (chấm), dap (dập), cheep (chít), chieo (chiên), mo (mài), tham (làm), rot (rót), sheet (xịt), chaek (trét), nung (nung), khuan (khuấy), nen (nén), kwart (quét), khwar (khoác), um (ẵm), bok (bảo), leo (quẹo), pork (gọt), pert (bật).
(11) Nhóm Sinh hoạt cao cấp - Trừu tượng. Ví dụ: term (thêm), khui mo (khoe mẽ), khor (hỏi), thai (thay), luak (lựa), luang (lừa), puan (bạn), tham rai (làm hại), kliat (ghét), chai (trả), thar (thách), yo (đố), phoei (phơi-phơi bày), war (quở-mắng), thorn chai (thở dài), yoo (ở), yua (đùa), shai (xài), yiam (thăm), thoi (thôi).
(12) Nhóm Thiên nhiên - Động vật. Ví dụ: maeo (mèo), kai (gà), kar (quạ), maa (má - chó), plar (cá), mat (mạt), tuk kae (tắc kè), yieo (diều), khao maeo (cú mèo), kaeo (két), plar muk (cá mực), aen (én), ngar (ngà).
(13) Nhóm Thiên nhiên - Thực vật. Ví dụ: phai (pheo-tre), king (cành), pot (bắp), na (na), khing (gừng), muang (muỗm), horm (hành), fin (phiện), tua (đậu), son (thông), wai (mây), shar (trà).
(14) Nhóm Thiên nhiên - Tổng quát. Ví dụ: tharn (than), mek (mây), lok (đất), tok (thác), nern (nổng), dong (rừng), mork (móc), long (ṛng-nước), chan (trăng), saeng chan (sáng trăng), lon (lớn-nước).
(15) Nhóm Từ kép. Ví dụ: kham nap (khép nép), rung rot (rạng rỡ), sa-warng sa-wai (sáng sủa), lom leo (lỏng lẻo), lork luang (lọc lừa), ruai ruai (hoài hoài), ngong nguey (ngẩn ngơ), yim yim (lâm râm), lo le (lo le), ruen rerng (rộn ràng), khlum khlua (âm u), nit noi (nhít nhỏ), plao plieo (loi lẻ), war we (quạnh quẽ), tam toi (thấp thỏi), pha som (pha trộn), khap khaep (chật hẹp), rok rark (gốc gác), kroke krark (rột rạt), uet art (uể oải), ot yark (đói khát), long tharng (lang thang), up ip (ấp ứ), on en (ỏn ẻn), khem khaeng (khỏe khoắn).
(16) Nhóm Linh tinh. Ví dụ: mae war (mặc dầu), lam (lắm), ruam kab (gồm cả), thaen (thay), shern (xin), khong lua (c̣n lại), yang (vẫn), yang khong (vẫn c̣n), kwar (quá), dai (đă), kum lang (đang), cha (sẽ), nee (này), nai (nào), krai (ai).
Đây mới chỉ là chút kiến thức nông cạn, ngẫu nhiên. Có thể t́m hiểu kỹ sẽ thấy về từ vựng tiếng Thái c̣n giống tiếng Việt hơn thế nữa.
Tuy nhiên, giống như trên tưởng cũng đủ gợi vô vàn thắc mắc. Người Việt Nam với người Thái-lan đâu có tiếp xúc ǵ đáng kể, sao dùng lắm từ giống nhau vậy, giống từ eo, lưng, mèo, cá, na, muỗm, than, mây, kèn, trống, đến đen, nặng, thơm, to, nhỏ, dài, hẹp, đến ôm, gơ, đạp, giẫm, ngậm, nếm, khom, đến mẹ, tía, đến sáng, mới, già, đến sạch, trong, rạn, nẫu, hoai, héo, đến ngọn, chót, lạc, lạ, đường, nẻo, đến ẵm con, quét nhà, thắt bín, pha thịt, nướng thịt, đến lựa, lừa, thách, làm, trả, thăm, thở dài, khoe mẽ? Lạ hơn nữa là giống cả ở những cái "riêng tư" như khép nép, rạng rỡ, ngẩn ngơ, lo le, rộn ràng, ỏn ẻn, lang thang và những cái tuy "thiếu nội dung" nhưng rất cần thiết cho lời ăn tiếng nói như mặc dầu, vẫn c̣n, c̣n lại, đă, đang, sẽ!
Ngữ pháp
Rơ ràng người Thái-lan có "san" với người Việt Nam rất nhiều từ căn bản. Trong cách cấu tạo câu, cấu tạo từ phức tạp, họ có "sẻ" ǵ với ta chăng?
Để so sánh hai cách đặt câu, không ǵ bằng dịch sát từng chữ trong mỗi câu. Dịch như thế, rồi để hai câu song song th́ có giống nhau hay không, giống nhiều giống ít, sẽ thấy được ngay mà không phải thông qua thuật ngữ rắc rối hay khái niệm ngữ pháp chủ quan của ai ai cả.
Dưới đây là bằng chứng cho thấy về ngữ pháp tiếng Thái giống tiếng Việt cách lạ lùng, giống từ tinh thần đến tận những chỗ rất đỗi tế nhị.
(1) Cấu trúc Đề-Thuyết:
Cao Xuân Hạo nhiều lần nhấn mạnh cấu trúc Đề-Thuyết của tiếng Việt. Đề-Thuyết cũng chính là cấu trúc cơ bản của tiếng Thái.
Phom / shue Mai. Tôi / tên Mai.
Wan nee / wan sao. Hôm nay / thứ sáu.
Ruang nee / phom krot maak. Chuyện này / tôi giận lắm.
(2) Tính "động" của tính từ:
Tiếng Thái có chữ pen, tương đương với chữ Việt là. Nhưng cũng như ta, họ nói baan suay (nhà đẹp), chứ không nói baan pen suay (nhà là đẹp). Đây cũng chỉ do cách cấu trúc Đề-Thuyết. Câu baan suay làm người Anh thắc mắc, nhưng với ta th́ quá tự nhiên.
(3) Ít "của":
Tiếng Thái có "của", nhưng cũng ít dùng như tiếng Việt: mae phom (mẹ tôi) thay v́ mae khong phom (mẹ của tôi).
(4) Chia th́:
Thái giống Việt, không tự động chia th́ mà chỉ chia khi cần làm rơ hay nhấn mạnh. Các cách cho biết "th́" của tiếng Thái cũng giống y như trong tiếng Việt.
Khao dai ma. Nó đă đến.
Khao maa laeo. Nó đến rồi.
Khao kum-lang ma. Nó đang đến.
Khao cha ma. Nó sẽ đến.
Để chỉ quá khứ, tiếng Thái c̣n dùng chữ khoei, tương đương với chữ từng của ta:
Phom khoei pai Fa-rang-set. Tôi từng đi Pháp.
(5) Câu "mà":
Từ Thái thee tương đương với từ Việt mà (tiếng Anh phân biệt thành who, which, where).
Baan thee khao yoo. Nhà mà nó ở.
Rot thee khao sue. Xe mà nó mua.
(6) Câu so sánh:
Thái đặt loại câu này y như Việt. Chữ kwa là chữ quá.
Nang-see / nee / yaak / kwa / nang-see / nan.
Sách / này / khó / hơn / sách / kia.
Nang-see / nee / yaak / thee-soot.
Sách / này / khó / nhất.
(7) Câu phủ định:
Thái có ít nhất bốn cách đặt câu phủ định. Ba cách giống y Việt, một cách hơi "cứng".
Phom mai sarb. Tôi không biết.
Mai mee sieng tob rub. Không có tiếng trả lời.
Bai nee mai chai khong khao. Cái này không phải của nó.
Phom kin mai dai. Tôi ăn không được.
Câu này tiếng Việt nói "Tôi không ăn được."
(8) Câu hỏi "tổng quát":
Thái có ít nhất chín cách đặt câu hỏi tổng quát, cách nào cũng y như Việt.
Nếu không đoán được câu trả lời:
Khao ma mai? Nó đến không?
Khun pai rue plao? Ông đi hay không?
Shuay phom noi dai mai? Giúp tôi chút được không?
Mee kon khab mai? Có người lái không?
Khao pai rue yang? Nó đi hay chưa?
Nếu nghĩ sẽ được xác nhận:
Khun sa-bai dee rue? Ông mạnh giỏi chứ?
Nếu đoán chắc sẽ được xác nhận:
Khun tong-kan pai, chai mai? Ông cần đi, phải không?
Nếu chỉ để lập lại thông tin:
Nam-mun mhod rue? Xăng hết à?
Hỏi mà câu trả lời không phải là không hay có:
Mee pla arai barng? Có cá ǵ đó?
Để ư rằng mai, mee, dai, chai, yang luôn luôn là không, có, được, phải, chưa, bất kể dùng trong câu phủ định hay trong câu hỏi. Chữ plao cũng luôn luôn là không. Chỉ có chữ rue khi là hay, khi là chứ, khi là à.
(9) Câu hỏi dùng Ai, Ǵ v.v.:
Giống y tiếng Việt, chỉ thỉnh thoảng hơi "dông dài".
Rao cha long rua mua rai? Ta sẽ lên thuyền lúc nào?
Mua rai khun cha ma eek? Khi nào ông sẽ đến nữa?
Krai rian phaa-saa Thai? Ai học tiếng Thái?
Khun shue arai? Ông tên ǵ?
Pai nai? Đi đâu?
Hotel nai dee? Khách sạn nào tốt?
Ra-ka thao rai? Giá bao nhiêu?
Koi narn sak thao rai? Đợi lâu mất bao nhiêu?
Ta-na-kan pert gee mong? Nhà băng mở mấy giờ?
Phom tong tham yarng rai? Tôi phải làm thế nào?
Khun cha pai yarng rai? Ông sẽ đi thế nào?
(10) Cách dùng trợ từ:
Giống tiếng Việt cách kỳ dị.
Phaeng kern pai! Đắt quá đi!
Pai hai phon! Đi cho rảnh!
Phom aan mai ok. Tôi đọc không ra.
Phom mai roo rueng arai loey. Tôi không biết chuyện ǵ cả.
Mee rot hai shao mai? Có xe cho mướn không?
Khao tham hai phom rop kuan. Nó làm cho tôi khó chịu.
Phom yark dai ra-ka took kwa. Tôi muốn được giá rẻ hơn.
Khao yang rian wichaa nan. Nó vẫn học môn ấy.
Khao yang kong kin. Nó vẫn c̣n ăn.
Ao sha ma hai phom. Mang trà tới cho tôi.
Phom leum ao ngern ma. Tôi quên mang tiền theo.
Mai hen mee ruang nee. Không hề có chuyện này.
Bok hai phom sarb duey. Nói cho tôi biết với.
Koi narn sak thao rai? Đợi lâu hết bao nhiêu?
Sha sia laeo! Trễ mất rồi!
Tham ayng rue? Làm lấy à?
Phom mai dai pai eek laeo. Tôi không được đi nữa rồi.
(11) Cách dùng tiếng xưng, hô:
So với tiếng Anh, chẳng hạn, th́ tiếng Thái và tiếng Việt hết sức phong phú nhân xưng đại danh từ. Người Anh xưng I, th́ người Thái, người Việt có thể xưng tôi, ông, bác, chú, anh, em v.v., tùy đang nói chuyện với ai.
Từ Thái rao giống từ Việt ta ở chỗ cũng dùng để nói với người dưới hoặc với chính ḿnh.
(12) Cách trả lời câu hỏi:
Tiếng Anh phải chọn giữa Yes và No. Tiếng Thái linh động y như tiếng Việt.
Ar-harn phaeng mai? Phaeng (Mai phaeng). Đồ ăn đắt không? Đắt (Không đắt).
..., chai mai? Chai (Mai chai). ..., phải không? Phải (Không phải).
Khun pai rue plao? Pai (Plao). Ông đi hay không? Đi (Không).
(13) Câu mệnh lệnh xác định:
Tiếng Thái cũng thêm chữ ở cuối câu:
Fung see! Nghe đây!
Doo khao see! Nh́n nó ḱa!
Pert pra-too si! Mở cửa ra!
(14) Cách nói cho lịch sự:
Tiếng Thái cũng dùng cách thêm chữ ở cuối câu.
Khun ma chark nai krup? Ông đến từ đâu ạ?
Khun pai nai ka? Ông đi đâu ạ?
Đàn ông dùng krup, đàn bà dùng ka.
(15) Cách cấu tạo từ phức tạp:
Có bốn cách chính, đều phổ thông trong tiếng Việt.
* Thêm chữ phụ phía trước: naa là đáng, rak là yêu, naa-rak là đáng-yêu.
* Đặt liền hai chữ ngang hàng: hung là nấu, tom là luộc, hung-tom nghĩa giống tiếng Việt nấu-nướng. Đặc biệt, phor-look (cha-con) có thể là "cha và con", "cha hoặc con", hay "cha của con", y như tiếng Việt.
* Lặp lại chữ, hoặc y hệt, hoặc biến đổi chút ít. dek-dek (trẻ-trẻ) là nhiều đứa trẻ; tiếng Việt nói nhà-nhà, người-người. Yung-ying là lẫn-lộn, soo-see là lảo-đảo.
* Dùng cả một cụm từ để diễn ư. Mai-khit-fai là que-đánh-lửa, tức que diêm. Ta nói gậy-cời-than, móc-áo, thuốc-đánh-răng v.v. Tiin-taa-tiin-cay (mở-mắt-mở-tim) là đầy bỡ ngỡ, hồi hộp. Ta nói mở-mày-mở-mặt để diễn ư hănh diện, chẳng hạn.
(16) Dùng loại từ:
Tiếng Anh chỉ dùng loại từ khi không đếm được trực tiếp: two packs of butter (hai tui bo), nhưng two cars (hai xe). Thái, Việt dùng loại từ cho mọi trường hợp: không những nói bia see khuat (bia bốn chai), mà c̣n nói rot saam kun (xe ba cái), maa soong tua (chó hai con), kluay ha bai (chuối năm trai).
(17) Vài chỗ dị biệt:
* Có lẽ chỗ khác đáng kể nhất giữa Thái với Việt là ở vị trí tương đối của danh từ, loại từ và số từ. Thái nói dek saam khon (trẻ ba đứa), dek loo saam khon (trẻ xinh ba đứa), dek loo saam khon nee (trẻ xinh ba đứa này). Việt nói Ba đứa trẻ, Ba đứa trẻ xinh, Ba đứa trẻ xinh này [6] . Ngoài ra, nếu chỉ có một th́ tiếng Thái lại nói dek khon neung (trẻ đứa một), thay v́ một đứa trẻ.
* Thái đôi khi dùng dai (được) "không cần thiết": Phom cham dai (Tôi nhớ được), Phom cham mai dai (Tôi nhớ không được). Việt nói gọn: Tôi nhớ, Tôi không nhớ.
* Vị trí của chữ dai (đă) trong câu phủ định Thái ngược với vị trí trong câu Việt: Phom mai dai tham (Tôi không đă làm), thay v́ Tôi đă không làm.
* Tiếng Thái đôi khi dùng chữ cha (sẽ) "không cần thiết": Phom mai yaak cha rian wichaa nan (Tôi không muốn sẽ học môn ấy), thay v́ Tôi không muốn học môn ấy.
Ba chỗ khác cuối dường như chỉ làm tiếng Thái có vẻ hơi "cứng" hay hơi "dông dài", hơn là làm nó thực sự khác tiếng ta.
Nh́n chung, về ngữ pháp tiếng Thái giống tiếng Việt đến mức ta rất dễ có cảm tưởng chỉ cần vài hôm là có thể thạo Thái!
Cái nhầm kỳ quặc
So Thái với Việt thấy quá quen. Nếu thử đọ Việt, Thái với Anh, chẳng hạn, sẽ thấy là quá lạ.
Để chỉ màu đậm, Thái dùng chữ kae (già); Anh nói dark, chứ không nói old. Cây có trái, Thái nói ork phon (ra quả); Anh nói bear fruits, chứ không nói out fruits. Thái phor shai (đủ xài); Anh well enough (tốt đủ). Thái phoot mai ork (nói không ra); Anh struck dumb (bị đánh đần độn). Thái Kerd rueng arai lah? (Sinh chuyện ǵ đó?); Anh What is the matter? (Cái ǵ là vấn đề?). Thái Khun sa-bai dee rue? (Ông mạnh giỏi chứ?); Anh How are you? (Thế nào là ông?).
Rơ ràng Thái, Việt giống nhau cách riêng tư, "cố ư", chứ không phải giống v́ cùng là nhân loại!
Học giả Tây phương không phải hoàn toàn không biết đến hiện tượng ấy, nhưng họ diễn dịch nó sai lầm cách tai hại cho công việc t́m hiểu của chính họ.
Gốc-ngọn, trên-dưới?!
Thời Việt Nam c̣n Pháp thuộc, H. Maspéro đă thấy tiếng Việt giống tiếng Thái và xếp nó vào họ Thái. [7]
Sang thế kỷ 21, chuyên gia ngữ học của Britannica cũng thấy tiếng Việt "chịu ảnh hưởng" hoặc "lấy" món nọ món kia của tiếng Thái. [8]
V́ đinh ninh Việt ngữ thuộc Thái ngữ hoặc Việt ngữ học của Thái ngữ nên các ông Tây mới thấy là tiếng Thái bơ vơ, không có anh em.
Tiếng dĩ nhiên có liên hệ với người. Đinh ninh như trên về quan hệ giữa tiếng với tiếng không ăn khớp với bằng chứng về chuyện đă xảy ra giữa người với người.
Lịch sử, lịch sử
Từ lúc có nước Thái-lan (cách nay khoảng 700 năm), nước ấy với nước ta không có tiếp xúc đáng kể.
Trước khi lập quốc, người Thái đă có dịp nào "đè đầu cưỡi cổ" ta chăng?
Học giả Việt Nam từ Đào Duy Anh đến nay đều nhất trí người Việt là hậu duệ của người Lạc, người Thái là hậu duệ của người Âu.
Theo đa số [9] , thời nước ta mới chỉ là Bắc bộ Âu sống sát bên Lạc, Âu rừng Lạc biển, Âu bắc Lạc nam. Lạc lập ra văn minh Đông Sơn lừng lẫy nhất Đông Nam Á hàng nửa thiên kỷ. Âu chỉ "oanh liệt" ngắn ngủi một lần khi Thục Phán hạ Hùng Vương thứ 18 mà lập ra nước Âu Lạc vắn số (khoảng 50 năm).
Theo B́nh Nguyên Lộc [10] , người Âu chỉ mới xuống Bắc bộ khoảng tám trăm năm nay và thủ phận đến sau mà ở núi ở rừng, sống tách biệt với ta.
Không thấy ai bảo người Lạc thuộc họ Âu.
Dù theo ư kiến của số đông hay của B́nh Nguyên Lộc, cũng không thấy được lư do khiến người Lạc phải học tiếng Âu.
Các nhà nghiên cứu Tây phương trước cho rằng các dân tộc Thái từ miền nam nước Tàu mà di cư xuống bắc Đông Nam Á, nay lại chủ trương họ vốn sinh tụ quanh vùng Điện Biên Phủ, rồi khoảng năm 1000 mới bắc tiến lên Hoa Nam, từ đấy tây tiến qua Miến-điện qua Ấn Độ, nam tiến xuống Thái-lan xuống Lào [11] . Dù bảo người Thái tiến xuống hay tiến lên, không thấy ông Tây nào khẳng định điều ǵ rơ ràng về quan hệ huyết thống giữa người Thái và người Việt. Càng không thấy nói người Thái từng uy hiếp được người Việt trong khoảng thời gian đáng kể.
Ta không phải ḍng giống Thái. Ta cũng không từng bị Thái chế ngự lâu dài. Vậy tiếng ta không thể thuộc họ Thái mà cũng không thể vay mượn tiếng Thái như các ông Tây đinh ninh.
Tiếng ngh́n năm cũ
Giống nhau mà không phải gốc-ngọn, th́ chỉ có thể là cành-cành.
Cành, thế mà hay
Tưởng Việt gốc Thái th́ Việt không giúp t́m hiểu Thái.
Biết Việt với Thái cùng là cành th́ có thể suy ra được ít nhiều về tuổi tác của gốc.
Nếu hai dân tộc anh em cứ liên tục làm láng giềng th́ khó biết một đặc tính chung nào đó là mới hay cũ. V́ hai bên có thể học qua học lại cái mới của nhau mà cùng thay đổi tương tự.
Nhưng nếu ở cách xa mà có những chỗ tương tự th́ những chỗ đó phải là vốn chung, của tổ tiên để lại. V́ chẳng lẽ mỗi người một phương cùng thi đua sáng kiến mà ngẫu nhiên những sáng kiến ấy lại giống nhau!
Đôi ngả bao giờ?
Ai cũng đồng ư người Thái-lan từ Vân Nam mà xuống đất Thái. Vân Nam đă xa Phú Thọ [12] . Trước Vân Nam, họ ở đâu?
Theo thuyết B́nh Nguyên Lộc, họ bị Hoa chủng đẩy từ Hoa Bắc xuống đấy đă vài ngàn năm. Khi người Tàu tiếp tục lấn, họ đi thẳng xuống Thái-lan chứ không hề ghé Bắc bộ (người Thái ở Bắc bộ chủ yếu là Âu Quảng Tây). Họ với ta chia tay nhau từ lúc ta c̣n ở bên Tàu, cách nay đă lâu lắm.
Theo thuyết Điện Biên Phủ, Vân Nam chỉ là trạm nghỉ ngắn trên đường "trường chinh" của người Thái. Họ ĺa quê, xa ta chỉ mới 1000 năm nay.
Bao nhiêu dâu bể?
Ngay cả nếu "đường ai nấy đi" mới mười thế kỷ, người Thái và người Việt cũng đă có thừa lư do để "ai nói nấy nghe". Phần ta ở lại nhà dù đă thoát ách đô hộ của người Tàu nhưng về văn hóa vẫn tiếp tục bị phương Bắc ảnh hưởng nặng nề. Phần họ bên đất Thái trước bị văn hóa Ấn Độ áp đảo tối tăm mặt mũi sau bị hàng triệu người Tàu theo gót Trịnh Chiếu tràn xuống "khai hóa". Kẻ ở người đi đều thay ngang đổi dọc do tiếp xúc với ṇi giống khác, lại thêm biến hóa tự nhiên, thế mà c̣n nhận ra nhau, lạ chứ.
Nếu thực ta với họ chia ĺa đă mấy ngàn năm, th́ chuyện tới mức quá lạ, tuy cũng c̣n đường giải thích. Để ư rằng cả Vân Nam lẫn Giao Chỉ đều là chỗ "khỉ ho c̣ gáy" đối với đế quốc Hán. Ngay vùng tương đối gần Trung Nguyên như các nước Việt thời Xuân Thu, Chiến Quốc mà sau khi chiếm xong người Hoa cũng phải mất mười mấy thế kỷ mới đồng hóa được. Vậy ảnh hưởng của họ ở Vân Nam, Giao Chỉ không sâu rộng lắm đâu. Dĩ nhiên Âu, Lạc vẫn phải bản lĩnh mới khỏi mất.
Bền là cái cách
C̣n nhận bà con được là v́ đôi bên đều c̣n mang dấu ấn của tổ tiên. Dấu ǵ mà bền thế?
Các nhà ngữ học hay nhấn mạnh là từ vựng căn bản sống lâu hơn ngữ pháp. Đă có xảy ra trường hợp một dân tộc vốn nói "Tôi ăn khoai" mà do tiếp xúc với dân khác lại đổi nói "Tôi khoai ăn", dù vẫn giữ đủ ba tiếng "tôi", "ăn" và "khoai".
Câu bền?
Trường hợp nhóm ngôn ngữ Việt-Thái, cái cách ta ráp từ lại thành câu rơ ràng cũng rất... thọ. Hăy xem:
Mee / kào / arai / mai? Có / tin / ǵ / không?
Ta-na-kan / yoo / thee / nai? Nhà băng / ở / chỗ / nào?
Hai / phom / pai / duey / dai / mai? Cho / tôi / đi / với / được / không?
Thee / nang / nee / mee / krai / chong / laeo / rue / yang?
Chỗ / ngồi / này / có / ai / giữ / rồi / hay / chưa?
Trong mấy câu Thái này, cũng như trong đại đa số câu khác, về từ chỗ giống chỉ c̣n lờ mờ, phảng phất, nh́n kỹ mới thấy, nhưng về "ngữ" sự tương đồng lồ lộ: chỉ cần dịch từng chữ Thái thành chữ Việt là có ngay câu Việt tự nhiên!
Cách bền?
Tiếng Việt, tiếng Thái, ngoài những từ "vô cảm" mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có như chân, tay, mặt, mũi v.v. c̣n chứa rất nhiều từ "hữu cảm" như khép nép, rạng rỡ, ngẩn ngơ v.v. Từ hữu cảm là một nét riêng về từ của "hệ" Bách Việt.
Có phải chính bản thân những "xác" khép nép, rạng rỡ, ngẩn ngơ v.v. đều có thể mất nhưng cái hồn của chúng th́ trường tồn, nên mới nảy những hiện thân mới mẻ như lôm côm, lướt phướt, lởm khởm [13] v.v.? "Thác là thể phách c̣n là tinh anh" [14] !
Nói hồn, nói tinh anh, nghe cầu kỳ. Nói cách. Người Việt, người Thái có cách đặt từ gói luôn vào đấy đủ thứ "cảm" của ḿnh.
Cách đặt từ "hết ḿnh" ấy với cách đặt câu "mềm như nước" kia dường như mới đích thực cái bền.
Ai bền, ai không?
Nói như trên không hẳn là bác bỏ ư kiến bác học.
Chỉ muốn táy máy một chút, muốn bảo rằng "từ" dù căn bản đến đâu cũng chỉ bền hơn thứ "pháp" chưa ổn định.
Pháp, hay cách, không phải hễ cứ bập bẹ thành lời là có chắc chắn được ngay. Nhưng đă "lỡ" "đóng cột" rồi, th́ dường như không dễ thay đổi.
Kho từ vựng Việt-Thái cổ vừa thu thập được vẽ nên một cảnh sinh hoạt tuy thiếu máy móc tối tân nhưng không hề man rợ. Người thôi man rợ, tiếng cũng thôi bập bẹ, tiếng mang phong cách, tiếng bền, được chăng?
Đá nhau một chút
Nhớ tiếng Huế.
Mai, mee, dai, chai v.v. nhắc răng, rứa, mô, tê v.v.
Dường như giữa "trăm con" Bách Việt có hiện tượng nói cùng một cách nhưng lại dùng một số từ căn bản, nhất là những đơn vị ngữ pháp căn bản, khác nhau: chẳng hạn mee, mai, dai chính là có, không, được; răng, rứa, mô chính là sao, thế, đâu. [15]
Cớ sao mà chia dai rẽ được, chia răng rẽ sao thế? Để "đánh dấu" từng "đứa" chăng?
Có chia rẽ, rồi lại có chia xẻ. Cái thể thơ nhịp chẵn gieo vần giữa câu độc đáo của người Việt, người Thái, người Chăm là một chia xẻ lớn. Nó liên hệ thế nào với cái cách ăn nói đặc thù của anh em chúng ta? Liệu có thể nêu được ǵ cụ thể hơn tinh thần Đề-Thuyết hay không? [16]
Nói lục bát, nhớ Kiều. Cùng làm thơ sáu tám, chỉ riêng ta có Nguyễn Du.
Nghĩ về văn học Đông Nam Á (không kể Việt Nam), từng có ư kiến: "Người Đông Nam Á không say mê văn học của ḿnh như người Việt Nam." [17] Dường như là lời tế nhị. Nếu chúng ta không có Kiều, hẳn chúng ta cũng không say mê văn học...
Nói văn học hơi mơ hồ. Trở lại tiếng nói. Đă tốn công cố chứng tỏ tiếng Thái giống tiếng Việt. Giống là giống vậy. Chứ câu văn Việt vừa mềm vừa gọn, từ Việt phân biệt hết sức tinh tế, nhất là những từ hữu cảm th́ vừa đầy sáng tạo vừa phong phú lạ kỳ, "tiếng mà đến thế th́ thôi" [18] , th́ đâu dễ có hai!
Đành "gà cùng một bọc", nhưng trăm con rồi đứa ra thế này đứa ra thế khác, có ǵ lạ.
Nói nhẹ kẻo "hoài". Dù chẳng "khôn ngoan" cũng cứ liều "đối đáp người ngoài"...
Bỏ qua đi... Tây! [19]
Học giả Tây phương, hễ bàn đến nguồn gốc tiếng Việt đa số có khuynh hướng nhất định. Do nước ta ở phía nam của đế quốc Tàu, phía đông của đế quốc Xiêm, phía bắc của đế quốc Miên, mà đầu tiên họ tưởng ta nói tiếng Tàu, xong họ tưởng ta nói tiếng Thái, sau đó họ "nhận ra" ta chính đang nói tiếng Miên [20] . Họ vừa kết luận thế vừa thú thực chưa biết mấy về cả tiếng nói lẫn nguồn gốc của các dân tộc Việt, Thái, Miên! [21]
Bảo ta học của Tàu c̣n tạm "tha" được. Thấy ta giống Thái, giống Miên, sao không nghĩ theo hướng anh-em mà lại khăng khăng đ̣i xếp trên, dưới?
Xếp thế là do quen đánh giá văn hóa thông qua thành tích xâm lăng [22] , qui mô kiến trúc. Xếp thế cũng là do tâm lư tức bực đối với một thuộc địa bướng bỉnh, quật cường.
Các ông Tây chủ quan, "t́nh cảm" đến mức quên bẵng bằng chứng lịch sử (như đă tŕnh bày), nhưng dĩ nhiên vẫn cung cấp được cho ta nhiều dữ kiện quí báu. Ta nên vừa trân trọng dữ kiện vừa cương quyết trao trả lời "b́nh" nhảm nhí.
Hiểu làm sao?
B́nh Nguyên Lộc từng nhận xét: "Ở Âu châu, các dân tộc không (...) bị (...) ngoại chủng xâm lăng (...) tất cả đều thuộc chủng Ấn-Âu, nên ngôn ngữ của họ c̣n khá đủ sau 5000 năm. Ở Á Đông, t́nh thế có khác v́ có Hoa chủng xen vào." [23] Nếu xét Á Đông cộng Đông Nam Á th́ ngoài Hoa c̣n Trắng Aryan cũng xen mạnh vào nội bộ Bách Việt thông qua Ấn Độ.
Bị quậy dữ dằn, vậy mà ngôn ngữ của chúng ta nhất định không mất. Chẳng những tiếng Thái giống tiếng Việt, nếu nh́n kỹ sẽ thấy tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Miên, tiếng Mă-lai, tiếng In-đô-nê-xi-a v.v. đều ít nhiều giống nhau, thấy một thứ hồn ǵ đấy cứ c̣n ẩn hiện trong tiếng nói khắp vùng.
Thấy thế, rồi hiểu làm sao?
[1]The New Encyclopaedia Britannica, Mỹ, 2002, q. 22, tr. 713-716.
[2]Bernard Comrie (chủ biên), The World's Major Languages, Oxford University Press, 1987.
[3]Theo đa số học giả, đây là do ảnh hưởng của tiếng Hoa.
[4]Có lẽ do không phổ biến mà hiện nay cách viết tiếng Thái bằng mẫu tự La-tinh vẫn chưa thống nhất. Chẳng hạn, sách này viết khao, phoot, leew, nii, sách khác lại viết khaw, pood, laeo, nee. Lại thường không bỏ dấu, trong khi Thái ngữ đặc biệt nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Do đó xảy ra t́nh trạng cùng viết là khao mà có ít nhăt là 15 nghĩa!
[5]Sau khi đă loại bỏ phần lớn những từ giống từ Hoa.
"Lệ" trước giờ là hễ thấy cái ǵ của "man di" mà giống của Hoa th́ cho ngay rằng man di bắt chước Hoa. Thái độ "dĩ Hoa vi trung" ấy cần xét lại v́ ngày càng có thêm nhiều bằng chứng là vào lúc hai bên gặp nhau nam man chẳng man tí nào (S. Oppenheimer trong Eden in the East, Phoenix, Anh, 1999, cho rằng chính Đông Nam Á mới là cái nôi của văn minh nhân loại).
Kẻ viết tiếng thành chữ, chẳng hạn chữ giang, đâu nhất thiết là kẻ đặt ra tiếng, kẻ đầu tiên gọi ḍng nước là giang. Thực ra giang bắt nguồn từ sông, khung, krong, songai v.v. của các dân tộc phương nam (xem B́nh Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam, Sài G̣n, 1971, tr. 627 / Trần Ngọc Thêm, T́m về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, tr. 60). Trường hợp này, người Hoa học tiếng của Bách Việt, nhưng ta có thể tưởng ngược lại mà bỏ qua, tức bỏ mất một bằng chứng nối kết tiếng Việt với bao nhiêu thứ tiếng anh em khác.
Oan uổng, mà hiện nay c̣n phải chịu.
[6]Theo David Strecker trong 'Tai languages' (Comrie, sđd., tr. 747-756) th́ các ngôn ngữ Thái ở Việt Nam, Quí Châu, Quảng Tây lại nói "Ba đứa trẻ". Strecker đoán có thể do ảnh hưởng Trung Quốc.
[7]Nguyễn Đ́nh Ḥa, 'Vietnamese', (Comrie, sđd., tr. 777-778).
[8]Britannica, quyển 12, tr. 363, quyển 27, tr. 784.
[9]Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, nxb. Thuận Hóa, VN, 1994, tr. 21-36 / Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1983, tr. 176-178.
[10]B́nh Nguyên Lộc, sđd., tr. 249, 293, 297.
[11]Britannica, quyển 27, tr. 774.
[12]Trong thời ta Bắc thuộc, người Âu ở Vân Nam có lập được nước Nam Chiếu, có hai lần sang định chiếm Giao Chỉ, nhưng đều bị Tàu đẩy lui. Ngoài ra, không nghe nói có giao lưu ǵ đáng kể với ta.
[13]Ví dụ: cậu thanh niên lôm côm, mộng mơ lướt phướt, học hành lởm khởm.
[14]Truyện Kiều, câu 116.
[15]Theo Strecker, sđd., th́ các ngôn ngữ trong hệ Tai có đặc điểm dùng một số từ căn bản và một số grammatical morphemes khác nhau, làm cho các dân tộc trong hệ ấy không hiểu nhau được, tuy tiếng nói của họ thực ra rất gần gũi về nhiều mặt khác. Người viết bài này đề xuất đấy cũng chính là đặc điểm của nhóm Việt-Thái, có thể là của toàn thể "hệ" Bách Việt.
[16]Xem bài 'Mềm như nước'.
[17]Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, 1998, tr. 575.
[18]Truyện Kiều, câu 179: "Người mà đến thế th́ thôi".
[19]Người Sài G̣n trước kia có lối nói đùa: "Bỏ qua đi Tám!".
[20]Hiện nay đa số học giả Tây phương xếp tiếng Việt vào nhánh Môn- Khơ-me trong hệ Nam Á (Austroasiatic). Đây chủ yếu là ư kiến của nhà thực vật học - ngữ học Pháp A.-G. Haudricourt, phát biểu năm 1954.
[21]Britannica, q.22, tr.702: "The work of classifying and comparing the Austroasiatic languages is still in the initial stages." Về ư kiến về nguồn gốc các dân tộc ở Đông Nam Á, xem quyển 27, chương 'Southeast Asia'.
[22]Cả Thái và Miên đều từng "đế quốc" thành công hơn ta.
[23]B́nh Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ, nxb. Nguồn Xưa, Sài G̣n, 1972, tr. 349. Âu châu từng bị người Mông Cổ đánh chiếm, nhưng những cuộc chinh phục ấy không để lại bao nhiêu dấu ấn văn hóa.
----------------------------
A popular view among Vietnamese scholar today is that the Tày people were the Âu Việt and Vietnamese (also the Mường) were the Lạc Việt.
Tày people in Cao Bằng has the legend of "cẩu chúa tranh vua" which tells the story of Thục Phán from when he was a little boy to when he took the throne from Hùng Vương and ruled Âu Lạc. This story leads us to think that Tày people were the Âu Việt because Thục Phán, according to Vietnamese, was an Âu Việt person.
The Thai people in Thailand are said to be related to the Tày ethnic in some way, and perhaps this connection with the Tày people makes them related to Vietnamese.