CẢNH CHIỀU HÔM
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gơ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?
ĐỀN TRẤN VƠ
Êm ái chiều xuân tới Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng
Một vũng tang thuơng, nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây, chín rơ mười
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Vàng toả non Tây bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
C̣i mục gác trăng miền khoáng dă
Chài ngư tung gió băi b́nh sa
Ḷng quê một bước dường ngao ngán
Mấy kẻ chung t́nh có thấy là ?
QUA ĐÈO NGANG
Bước đến đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau ḷng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái da da
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh t́nh riêng ta với ta
THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
Tạo hoá gây chi cuộc hư trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước c̣n cau mặt với tang thương
Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
CHÙA TRẤN BẮC
Trấn Bắc hành cung cỏ dăi dầu
Ai đi qua đó chạnh niềm đau
Mấy toà sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đă rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu
VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ LƯ GIẢI TẠI SAO TRONG THƠ BÀ HUYỆN THANH QUAN LẠI ẨN CHỨA MỘT NỖI NIỀM HOÀI CỔ
Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Tiểu sử của bà không được đầy đủ lắm. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đ́nh với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Tŕ, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Trong Nam thi hợp tuyển của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có đề cập về chồng của nữ sĩ như sau: "Chồng bà là ông Lưu Nguyên Uẩn, sinh năm 1804, đậu tú tài năm 1825, cử nhân năm 1828 và được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan. Ông huyện Thanh Quan v́ can án phải cách, bổ làm Bát phẩm thơ lại Bộ h́nh. Sau lại thăng lên chức Viên ngoại lang".
Bà huyện Thanh Quan rất say mê cái thú văn chương và xem đó là một thú tiêu khiển thanh tao nhất. Trong câu đối dán trong dịp Tết, bà đă hạ bút:
Duyên với văn chương nên dán chữ
Nợ ǵ trời đất phải trồng nêu
Nói về bà, có nhiều giai thoại rất lư thú. Nhân một hôm ông huyện đi vắng, có một người đàn bà c̣n trẻ, tên là Nguyễn Thị Đào đến kiện người chồng phụ bạc, phế bỏ việc gia đ́nh, hắt hủi vợ nhà, và yêu cầu quan trên cho ḿnh được ly dị với chồng. Nhận thấy nội dung lá đơn lời lẽ rất cảm động, thương cho người thiếu phụ chịu lỡ dở cuộc duyên t́nh phí bỏ cả ngày xanh trong cảnh cô đơn, bà Huyện liền quên cả luật pháp, phê vào lá đơn của Nguyễn Thị Đào bốn câu thơ:
Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo, cắm sào đợi ai
Chữ rằng: Xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút, chẳng mai nữa già
Do việc làm của bà mà ông Huyện bị quan trên quở trách. Nhưng cách đó chẳng lâu, ông lại được thăng chức và thuyên chuyển về Bộ h́nh làm chức lang trung. Nhờ có tài văn chương lỗi lạc, Bà huyện Thanh Quan được vua Tự Đức vời vào cung và phong chức Cung trung Giáo tập để dạy cho các cung nhân học. Trọng tài học của bà, vua Tự Đức có ban cho bà được đề thơ vào một cái chén cổ, có bức hoạ sơn thuỷ. Bà đă ứng khẩu đọc hai câu:
In như thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang
Vua Tự Đức vốn thích văn chương nên thường làm thơ cho bà hoạ lại, bà hoạ rất tài nên được vua rất quư trọng. Về những tác phẩm bằng chữ Nôm của Bà huyện Thanh Quan, hiện nay chỉ c̣n lại những bài thơ thất ngôn: Thăng Long hoài cổ, Chùa Trấn Bắc, Đền Trấn Vơ, Qua đèo Ngang, Cảnh thu, Nhớ nhà, Cảnh chiều hôm,...
Phần quan trọng trong thơ văn của Bà huyện Thanh Quan là phần hoài cổ, tiếc thương quá khứ vàng son của tiền triều. Sinh trưởng vào thời Lê mạt và Nguyễn Sơ, bà đă chứng kiến bao cảnh thay ngôi đổi vị, chiến tranh tang thương. Cái ươn hèn của con cháu Hậu Lê, vua Lê Chiêu Thống toan "rước voi về dày mả tổ",... Bà huyện Thanh Quan, cũng như thi hào Nguyễn Du, muốn dùng văn thơ để diễn tả "những điều trông thấy mà đau đớn ḷng". Vốn là phận nữ nhi, bà không thể viết lên những lời nuối tiếc nhà Lê như là một di thần, nhưng bà chỉ muốn nói lên ḷng tha thiết tiếc thương cho một thời rực rỡ xa xưa, bị vùi dập v́ loạn ly khói lửa. Trong bài Thăng Long hoài cổ, bà đă nói lên ḷng thương tiếc không nguôi những dĩ văng oai hùng, những thời vàng son thuở trước. Giờ đây, chiến tranh loạn lạc, bao cảnh đổi dời, đổ nát điêu tàn.
Tạo hoá gây chi cuộc hư trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước c̣n cau mặt với tang thương
Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
Vốn là một trang nữ lưu tài sắc, Bà huyện Thanh Quan, cũng như hầu hết các thi nhân kim cổ, có một nguồn t́nh cảm dạt dào, một tấm ḷng tha thiết với gia đ́nh. Trên con đường từ đất Bắc vào kinh đô Huế để nhậm chức Cung trung Giáo tập, qua bao gian nan, một ḿnh phải vượt suối, trèo đèo, bà đă có dịp để ḷng ḿnh sống với hiu quạnh cô đơn. Và bài thơ Chiều hôm nhớ nhà đă được viết ra để hồi tưởng lại những ngày sống với gia đ́nh trong ấm ngoài êm. Nếu ḷng hoài cổ thiết tha, sự thân mật với gia đ́nh càng nồng nhiệt bao nhiêu, th́ trước tạo vật, nữ sĩ cũng thấy ḷng giăng trải để rộng đón những cảnh hùng vĩ của núi sông. Sự trầm mặc của Bà huyện Thanh Quan đôi khi đă thể hiện ở bên ngoài. Ta tưởng chừng như bà là một người đa cảm, đa sầu, tâm hồn dễ rung động trước ngoại cảnh. Nhưng thật ra, nỗi buồn của nữ sĩ rất nhẹ nhàng, kín đáo. Có lẽ v́ quen nếp sống cổ kính của đạo lư Khổng Mạnh, bà rất dễ dè dặt, không để t́nh cảm bộc lộ một cách ầm ĩ. Tuy nhiên ta cũng thấy được phần nào nội tâm xao xuyến qua lời thơ. Lời thơ của bà rất nhẹ nhàng, dùng lời văn khuê các, đoan trang. Thơ buồn man mác trong những câu:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
hoặc là:
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng
Một vũng tang thương nước lộn trời
Và những u hoài của một lữ thứ khi hoàng hôn xuống đă được thể hiện linh động nhưng mang vẻ trầm mặc, hắt hiu:
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
hoặc là:
Vàng toả non Tây, bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa
Những lời thơ óng chuốt, đượm một vẻ bâng khuâng luyến tiếc, đă nói lên phần nào sự rung cảm chân thành của nữ sĩ trước tạo vật, trước thay đổi của nhân thế. Hầu hết trong thơ của bà, chúng ta có thể t́m thấy những đường nét hao hao giống tám bức cổ hoạ của Trung Hoa: B́nh sa lạc nhạn (đàn chim nhạn bay xuống băi cát), Sơn thị t́nh lam (cảnh chợ chiều dưới chân núi), Viễn phố quy phàm (thuyền buồm ở phố xa về), Ngư thôn tịch mịch (cảnh xóm thuyền chải buổi chiều), Sơn tự hàn chung (tiếng chuông chùa văng vẳng trên núi), Động Đ́nh thu nguyệt (trăng thu trên hồ Động Đ́nh), Giang biên mộ tuyết (cảnh gần tối tuyết sa ở bên sông), Tiêu Tương dạ vũ (cảnh đêm mưa trên sông Tiêu Tương).
Do những bài thơ ngụ ư tiếc thương quá khứ, Bà huyện Thanh Quan được nhiều nhà phê b́nh văn học xếp vào những thi sĩ có khuynh hướng hoài cổ.
http://my.opera.com/nguyenhoangsongphuong/...anh-quannsa-s-u